Thứ ba, 26 Tháng 4 2016 07:41

Điều lệ Hội

UỶ BAN NHÂN DÂN

TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

ĐIỀU LỆ (SỬA ĐỔI, BỔ SUNG) HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT

TỈNH LẠNG SƠN KHOÁ VII, NHIỆM KỲ 2013 – 2018

(Ban hành kèm theo Quyết định số 2094/QĐ-UBND ngày 27/12/2013

của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn)

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

          Điều 1. Tên Hội

          Tên tiếng Việt: Hội Văn học Nghệ thuật Lạng Sơn

          Tên tiếng Anh: Lang Sơn Arts – Literature Association

          Điều 2. Tôn chỉ mục đích

          Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Lạng Sơn là một tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tập hợp đoàn kết những người hoạt động trong các lĩnh vực văn học nghệ thuật (nghiên cứu lý luận, phê bình, sưu tầm, sáng tạo, biểu diễn …) và những người có tâm huyết với sự nghiệp phát triển văn học nghệ thuật trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn tự nguyện tham gia.

          Điều 3. Nguyên tắc hoạt động

          Hội tổ chức hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự quản và tuân thủ pháp luật của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hội hoạt động theo đường lối văn nghệ của Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội thực hiện nhiệm vụ chính trị của tỉnh, góp phần bảo vệ, xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt nam xã hội chủ nghĩa.

Điều 4. Mối quan hệ của Hội với các tổ chức chính trị xã hội

Hội là thành viên của Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam, thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Lạng Sơn.

Điều 5. Phạm vi hoạt động và tư cách pháp nhân, trụ sở Hội

1.     Hoạt động trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.

2.     Hội có con dấu và tài khoản riêng.

3.     Trụ sở của Hội tại thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn

Chương II

NHIỆM VỤ QUYỀN HẠN CỦA HỘI

          Điều 6. Hội có những nhiệm vụ sau

          1. Thường xuyên tuyên truyền về tôn chỉ, mục đích của Hội. Thực hiện đúng chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về văn hoá văn nghệ.

          2. Tập hợp, đoàn kết, động viên những hoạt động trong lĩnh vực văn học nghệ thuật trên địa bàn tỉnh để phát huy mọi tiềm lực, chuyên môn nghiên cứu, lý luận, phê bình, sưu tầm, sáng tạo, biểu diễn các tác phẩm văn học nghệ thuật có giá trị nội dung, nghệ thuật cao.

          3. Phát triển, bồi dưỡng các tài năng văn học nghệ thuật trong tỉnh, góp phần bảo tồn, gìn giữ và phát huy các giá trị tốt đẹp di sản văn hoá các dân tộc của tỉnh, của Việt Nam.

          4. Không ngừng bồi dưỡng hội viên về chính trị, tư tưởng, phẩm chất đạo đức, nâng cao nghề nghiệp.

          5. Tham gia với các cơ quan hữu quan khai thác, bảo tồn, chấn hưng, phát triển truyền thống văn hoá, văn nghệ của đồng bào các dân tộc trong tỉnh; chọn lọc giới thiệu những tác phẩm văn học nghệ thuật trong tỉnh, trong nước có giá trị nội dung, nghệ thuật cao và tinh hoa văn hoá thế giới nhằm đáp ứng nhu cầu thưởng thức văn hoá văn nghệ ngày càng cao của nhân dân.

          6. Đẩy mạnh các sinh hoạt học thuật, lý luận, phê bình để nâng cao trình độ nghề nghiệp; phối hợp chặt chẽ với cơ quan hữu quan, đặc biệt với cơ quan quản lý văn hoá, thông tin trong tỉnh, tranh thủ sự giúp đỡ của Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt nam và các Hội Chuyên ngành Trung ương để nâng cao hiệu quả, chất lượng hoạt động Hội.

          7. Liên kết với các cơ quan của Nhà nước, các tổ chức xã hội, các thành phần kinh tế, các Hội nghề nghiệp, các cơ quan thông tấn báo chí, truyền hình, phát thanh trong tỉnh để tổ chức các chương trình hoạt động văn hoá văn nghệ.

          8. Vận động, tranh thủ mọi nguồn tài trợ để đầu tư cho nghiên cứu, lý luận, phê bình, sưu tầm, sáng tạo, biểu diễn, trưng bày triển lãm các tác phẩm văn học nghệ thuật có nội dung, nghệ thuật cao, phản ánh về đất nước, con người Lạng Sơn trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

          9. Tư vấn, kiến nghị với Đảng, Nhà nước, với Tỉnh uỷ, UBND tỉnh, với Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh về những chủ trương, chính sách, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ những người hoạt động văn học nghệ thuật, các tài năng văn học nghệ thuật trẻ và tài năng văn học nghệ thuật là người dân tộc thiểu số trong tỉnh.

          10. Tổ chức các hoạt động giao lưu văn hoá văn nghệ với các tổ chức, cá nhân nước ngoài theo quy định của pháp luật nhằm tuyên truyền, trao đổi nghề nghiệp và giới thiệu những tác phẩm văn học nghệ thuật có giá trị nội dung, nghệ thuật cao.

          Điều 7. Quyền hạn của Hội

1.     Được thành lập các tổ chức trực thuộc Hội theo quy định của Pháp luật.

2. Được tham gia tư vấn phản biện, góp ý kiến đề xuất vào các đề án, dự án các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước, của tỉnh trong việc phát triển nền văn học nghệ thuật Việt Nam và của tỉnh.

3. Được tham gia vào Hội đồng xét Giải thưởng văn học nghệ thuật Hoàng Văn Thụ của tỉnh.

4. Được vận động tiếp nhận các nguồn tài trợ, hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân trong nước cho việc nghiên cứu lý luận, phê bình, dịch thuật, sưu tầm, sáng tạo, biểu diễn, trưng bày triển lãm các tác phẩm văn học nghệ thuật.

5. Được quan hệ với các tổ chức quốc tế, các quốc gia, cá nhân nước ngoài trong việc liên kết, giao lưu, trao đổi kinh nghiệm về lĩnh vực văn học nghệ thuật và tiếp nhận các nguồn tài trợ của nước ngoài theo quy định của pháp luật nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

6. Được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức trực thuộc Hội, của hội viên trước pháp luật khi tổ chức, hội viên có yêu cầu.

7. Được đề nghị Nhà nước và các cấp khen thưởng cho tổ chức, cá nhân có thành tích xuất sắc trong việc xây dựng và phát triển Hội.

Chương III

HỘI VIÊN

          Điều 8. Điều kiện xét kết nạp

          Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Lạng Sơn là những công dân Việt Nam có hộ khẩu thường trú tại Lạng Sơn, tán thành Điều lệ Hội, hoạt động văn học nghệ thuật trong tỉnh gồm các Chi hội: Biểu diễn, quản lý, lý luận, phê bình, sưu tầm, nghiên cứu, dịch thuật, sáng tác …

          Người có nguyện vọng gia nhập Hội cần có đủ các điều kiện sau:

1.     Đơn xin gia nhập Hội.

2. Có 05 tác phẩm cùng thể loại đã được đăng tải, công bố, biểu diễn hoặc có 01 công trình sáng tạo, nghiên cứu, dịch thuật.

3. Có sơ yếu lý lịch và bản tóm tắt quá trình hoạt động văn học nghệ thuật.

4. Có 02 hội viên cùng Chi hội giới thiệu.

5. Trường hợp các hội viên Chuyên ngành Trung ương và hội viên các tỉnh khác về công tác tại tỉnh Lạng Sơn, có nguyện vọng gia nhập Hội phải được các Hội đó giới thiệu và được Thường trực Hội xem xét báo cáo Ban chấp hành trong phiên họp gần nhất để Quyết định.

Điều 9. Hội viên tán trợ và hội viên danh dự

1. Những cá nhân không đủ điều kiện là hội viên của Hội nhưng có những đóng góp về tiền, tài sản, công sức cho Hội thì được Hội công nhận là “hội viên tán trợ”.

2. Hội viên danh dự là những cán bộ đã tham gia vào công tác lãnh đạo Hội hoặc lãnh đạo các tổ chức, Ban, Ngành có uy tín và có nguyện vọng tham gia vào Hội mà không có điều kiện trở thành hội viên thì được Hội công nhận là “hội viên danh dự”.

“Hội viên tán trợ” và “Hội viên danh dự” được mời tham gia các hoạt động của Hội, nhưng không tham gia vào các cơ cấu lãnh đạo của Hội, không tham gia biểu quyết các vấn đề của Hội.

Điều 10. Nghĩa vụ của hội viên

1. Chấp hành Điều lệ Hội, thực hiện mọi nghị quyết, chương trình công tác của Hội; tích cực tham gia các hoạt động, sinh hoạt của Hội, Chi Hội;

2. Phấn đấu đạt hiệu quả, chất lượng cao trong sáng tác và các hoạt động chuyên môn;

3. Thường xuyên học tập, nâng cao trình độ chính trị, tư tưởng và chuyên môn khác;

4. Giữ gìn đạo đức nghề nghiệp, xây dựng khối đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong chuyên môn, bảo vệ phẩm chất danh dự hội viên và uy tín của Hội;

5. Đóng hội phí đúng kỳ, đầy đủ;

6. Tuyên truyền vận động và giới thiệu kết nạp hội viên.

Điều 11. Hội viên có quyền lợi

1.     Được cấp thẻ hội viên

2. Được thảo luận dân chủ, góp ý kiến, xây dựng các nghị quyết, chương trình công tác của Hội, Chi hội, chất vấn, kiến nghị lên các cấp của Hội; góp phần kiểm tra các hoạt động của Hội.

3. Được bầu cử, ứng cử, đề cử các chức danh lãnh đạo Hội

4. Được tham gia các hoạt động do Hội tổ chức

5. Được cung cấp thông tin cần thiết về văn học nghệ thuật, Tạp chí và các tài liệu do Hội xuất bản.

6. Được Hội chọn cử đi tham quan, học tập trong nước và nước ngoài khi Hội có điều kiện.

7. Được Hội bảo vệ quyền lợi chính trị, quyền lợi hoạt động nghề nghiệp hợp pháp; được giúp đỡ về vật chất, tinh thần theo khả năng của Hội.

8. Được Hội giới thiệu đến sinh hoạt tại các Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh khác khi chuyển vùng.

9. Được giới thiệu kết nạp hội viên mới và có quyền xin ra Hội (hội viên khi ra khỏi Hội phải trả thẻ hội viên)

Điều 12. Rút tên, xoá tên khỏi danh sách hội viên

Hội viên được xem xét rút tên khỏi danh sách trong những trường hợp sau:

1.     Bản thân hội viên có đơn xin ra khỏi Hội.

2. Hội viên vi phạm pháp luật Nhà nước được các cơ quan chức năng kết luận.

3. Hội viên không đóng hội phí, không tham gia sinh hoạt Hội, ngừng hoạt động văn học, nghệ thuật không có lý do chính đáng từ 2 năm trở lên. (Việc rút tên hội viên khỏi danh sách do Ban chấp hành quyết định và không phải là hình thức kỷ luật).

4. Hội viên gây mất đoàn kết nội bộ Hội, làm ảnh hưởng xấu đến uy tín, danh dự của tổ chức Hội.

Chương IV

TỔ CHỨC CỦA HỘI

          Điều 13. Tổ chức Hội Văn học Nghệ thuật gồm :

1.     Ban chấp hành Hội (Ban Thường vụ, Ban Thường trực Hội)

2.     Ban kiểm tra

3.     Hội đồng nghệ thuật

4.     Văn phòng Hội

5.     Tạp chí Văn nghệ Xứ Lạng – Cơ quan ngôn luận của Hội

6.     Các Ban Chuyên môn

7.     Tổ chức cơ sở của Hội gồm: Chi hội, Câu lạc bộ.

Điều 14. Đại hội

Cơ quan lãnh đạo cao nhất của Hội là Đại hội toàn thể hội viên hoặc Đại hội đại biểu; nhiệm kỳ 5 năm.

Đại hội bất thường được triệu tập khi có ít nhất 2/3 số uỷ viên Ban chấp hành yêu cầu hoặc quá 1/2 tổng số Chi hội, đơn vị trực thuộc yêu cầu. Đại hội được tiến hành khi có ít nhất 2/3 số đại biểu chính thức được triệu tập.

Điều 15. Nội dung Đại hội

1. Thảo luận và thông qua báo cáo tổng kết về tổ chức hoạt động của Hội trong nhiệm kỳ đã qua và phương hướng hoạt động của Hội trong nhiệm kỳ mới.

2. Thảo luận và thông qua dự thảo Điều lệ Hội sửa đổi (nếu có)

3. Báo cáo kiểm điểm về sự điều hành của Ban chấp hành Hội nhiệm kỳ đã qua.

4. Báo cáo của Ban kiểm tra, các Ban Chuyên môn, Hội đồng nghệ thuật, quyết toán tài chính.

5. Bầu Ban chấp hành Hội nhiệm kỳ mới (Số lượng Ban chấp hành do Đại hội quyết định)

6. Thông qua Nghị quyết Đại hội.

Điều 16. Quy định về tiến trình

$11.     Thành lập Ban bầu cử và Tổ kiểm phiếu

2. Danh sách ứng cử, đề cử phải được giới thiệu từ các tổ chức cơ sở của Hội, việc phân bổ số lượng vào danh sách ứng cử, đề cử phải căn cứ vào nhu cầu công tác, số hội viên các Chuyên ngành, vùng miền và các tổ chức cơ sở của Hội.

3. Những người trúng cử phải trên 1/2 số phiếu bầu hợp lệ.

Điều 17. Ban Chấp hành Hội

Là cơ quan lãnh đạo cao nhất giữa 2 kỳ Đại hội. Trong nhiệm kỳ, khi xét thấy cần thiết, Ban Chấp hành của Hội có quyền bãi miễn thành viên Ban chấp hành và có thể bổ sung một số thành viên Ban chấp hành bị khuyết. Số thành viên Ban chấp hành bổ sung hoặc bãi miễn không quá 1/5 số thành viên Ban chấp hành được Đại hội bầu và phải báo cáo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

Sinh hoạt thường kỳ của Ban chấp hành Hội 2 lần trong năm. Ngoài ra có thể họp bất thường nếu có quá  1/2  số uỷ viên BCH yêu cầu hoặc do Ban Thường vụ triệu tập khi cần thiết.

Nhiệm vụ Ban chấp hành:

1. Ban chấp hành chịu trách nhiệm xây dựng quy chế làm việc và các chương trình hoạt động thực hiện các Nghị quyết và quyết định do Đại hội đề ra; xây dựng báo cáo công tác hàng tháng, hàng quý, dự kiến phương hướng hoạt động, kế hoạch của Hội hàng năm.

2. Lãnh đạo toàn bộ các hoạt động của Hội và các tổ chức Hội.

3. Bầu ra Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, Uỷ viên Ban Thường vụ và Ban kiểm tra của Hội, Hội đồng nghệ thuật.

4. Xây dựng và kiện toàn các tổ chức của Hội, thành lập các Ban chuyên môn, các Ban giúp việc của Ban chấp hành Hội.

5. Quyết định khen thưởng, kỷ luật của Hội và đề nghị lên cấp có thẩm quyền khen thưởng tập thể, hội viên và thành tích hoạt động văn học nghệ thuật, bảo vệ và phát huy di sản văn hoá của Việt Nam, của tỉnh.

6. Chuẩn bị nội dung, chương trình, tài liệu cho cuộc họp bất thường; các nội dung văn kiện của Đại hội nhiệm kỳ, hoặc Đại hội bất thường; thành lập các tiểu ban phục vụ cho Đại hội nhiệm kỳ tiếp theo.

7. Xét kết nạp hội viên

Điều 18. Ban Thường vụ

Nhiệm vụ của Ban Thường vụ: Thay mặt Ban chấp hành Hội điều hành các công việc thường xuyên của Hội theo Nghị quyết đã được Ban chấp hành Hội thông qua. Chuẩn bị các báo cáo, chương trình công tác để thông qua Ban chấp hành Hội; lãnh đạo và quản lý các tổ chức của Hội; ký kết các văn bản hợp tác với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Chủ tịch Hội là thủ trưởng cơ quan Hội, chịu trách nhiệm trước Ban chấp hành Hội về tổ chức thực hiện các Nghị quyết Đại hội của Hội đề ra.

Ban Thường vụ mỗi quý họp một lần.

Trường hợp Chủ tịch Hội vắng mặt vì lý do nào đó, Chủ tịch Hội uỷ nhiệm cho một Phó Chủ tịch Hội thay thế để điều hành công việc.

Điều 19. Ban kiểm tra

Ban kiểm tra do Ban chấp hành bầu và quy định số lượng, Trưởng ban kiểm tra phải là thành viên Ban chấp hành Hội.

Ban kiểm tra có nhiệm vụ

1. Thực hiện kiểm tra, thanh tra và giải quyết các khiếu nại, tố cáo của hội viên, của tổ chức Hội.

2. Kiểm tra tư cách hội viên và công tác tài chính của Hội.

3. Kiểm tra các hoạt động của Hội và các tổ chức Hội

4. Kiểm tra việc thực hiện Điều lệ Hội và Nghị quyết Hội

5. Việc kiểm tra, thanh tra phải tuân thủ theo quy định của pháp luật. Kết thúc kiểm tra hoặc giải quyết các khiếu nại, tố cáo, Ban kiểm tra phải báo cáo bằng văn bản về Ban Thường vụ Hội và báo cáo tại cuộc họp Ban chấp hành Hội, Ban kiểm tra mỗi năm họp một lần. Khi cần thiết có thể họp bất thường.

Điều 20. Hội đồng nghệ thuật

1. Hội đồng nghệ thuật là những người có uy tín nghề nghiệp và chuyên môn cao, được hội viên tín nhiệm.

Chủ tịch Hội đồng và các thành viên Hội đồng nghệ thuật do Ban chấp hành bầu. Người ký quyết định là Chủ tịch Hội.

2. Hội đồng nghệ thuật có nhiệm vụ, thẩm định giá trị các tác phẩm văn học nghệ thuật. Đề nghị Chủ tịch Hội, Ban Thường vụ xét hỗ trợ đầu tư sáng tác tác phẩm, xét trao giải thưởng …

3. Dưới Hội đồng nghệ thuật căn cứ yêu cầu của từng công việc Chủ tịch Hội quyết định giao nhiệm vụ cho Ban chuyên môn, trên cơ sở đó Ban chuyên môn có nhiệm vụ sơ chọn, tổng hợp tác phẩm báo cáo Hội đồng nghệ thuật.

Hội đồng nghệ thuật hoạt động theo yêu cầu nhiệm vụ.

Điều 21. Văn phòng Hội

Văn phòng Hội là cơ quan Thường trực của Hội. Văn phòng Hội có Chánh Văn phòng, các Phó Chánh Văn phòng và một số nhân viên giúp việc.

Chánh Văn phòng có nhiệm vụ:

1. Giúp Ban chấp hành và Ban Thường vụ, thực hiện các công việc tổ chức, hành chính được phân công.

2. Thực hiện các chương trình, kế hoạch công tác của Hội

3. Ký các văn bản hành chính và các văn bản khác do Chủ tịch Hội phân công.

Điều 22. Cơ quan ngôn luận của Hội – Tạp chí Văn nghệ Xứ Lạng

Cơ quan ngôn luận của Hội tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật báo chí. Việc bổ nhiệm Tổng Biên tập do Ban Thường vụ giới thiệu, Ban chấp hành Hội thông qua và phải thực hiện đúng quy trình bổ nhiệm Tổng Biên tập được quy định của Luật báo chí. Tổng Biên tập chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước Ban chấp hành Hội và Ban Thường vụ Hội về nội dung và hình thức của báo, Tạp chí.

Điều 23. Các Ban chuyên môn

Các Ban chuyên môn do Thường trực Hội quyết định thành lập, Ban chuyên môn có nhiệm vụ giúp Thường trực Hội thực hiện triển khai các hoạt động về chuyên môn nhằm nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho hội viên, các Ban chuyên môn 06 tháng họp một lần.

Điều 24. Chi hội, Câu lạc bộ

1. Chi hội gồm các hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh. Chi hội Trưởng, Chi hội Phó do Ban Thường vụ quyết định. Chi hội Trưởng, Chi hội Phó chịu trách nhiệm xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện các hoạt động của Chi hội. Hàng năm báo cáo đánh giá hoạt động của các Chi hội với Thường trực và Ban chấp hành Hội thực hiện các nhiệm vụ khác do Điều lệ quy định và Ban chấp hành uỷ nhiệm.

2. Câu lạc bộ là tổ chức gồm một số hội viên nòng cốt của Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh và những người yêu thích chuyên ngành tương ứng và có khả năng sáng tạo văn học nghệ thuật.

3. Câu lạc bộ đều đặt dưới sự lãnh đạo của Cấp uỷ địa phương và sự quản lý của chính quyền và ngành văn hoá thông tin địa phương; tiến hành thiết lập mối quan hệ hợp tác với các cơ quan văn hoá thông tin địa phương.

4. Nhiệm kỳ của Chi hội, Câu lạc bộ 5 năm.

Điều 25. Chi hội văn học nghệ thuật Chuyên ngành Trung ương tại địa phương

Các Chi hội văn học nghệ thuật Chuyên ngành Trung ương tại tỉnh chịu sự lãnh đạo của Cấp uỷ Đảng và sự quản lý Nhà nước của chính quyền tỉnh; có trách nhiệm thường xuyên phối hợp với Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh trong việc tổ chức các hoạt động văn học nghệ thuật tại tỉnh, giúp đỡ Hội trong việc bồi dưỡng nâng cao chuyên môn cho hội viên Hội Văn học Nghệ thuật. Nếu muốn trở thành thành viên của Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh phải tự nguyện và có đơn đề nghị, được sự chấp thuận của Hội Chuyên ngành Trung ương.

Chương V

TÀI CHÍNH, TÀI SẢN CỦA HỘI

          Điều 26. Tài chính của Hội gồm

1.     Nhà nước tài trợ

2.     Hội phí do hội viên đóng góp theo tháng, mức đóng do BCH quy định

3.     Kinh phí do các hoạt động nghề nghiệp của Hội và hội viên

4.     Ủng hộ của các cá nhân, các tổ chức, cơ quan trong nước

5.     Tài trợ, quà tặng của cá nhân, tổ chức được phép quan hệ ở nước ngoài.

Điều 27. Sử dụng tài chính của Hội

Các nguồn thu, chi được sử dụng theo quy định

1.     Chi quản lý hành chính

2.     Chi phí nghiệp vụ chuyên môn

3. Nguồn hỗ trợ sáng tạo tác phẩm công trình văn học nghệ thuật. Việc thu, chi thực hiện theo quy định của Nhà nước.

Điều 28. Tài sản của Hội

Tài sản của Hội gồm các tài sản cố định và các trang thiết bị, phương tiện phục vụ cho các hoạt động của Hội, sách và các văn hoá phẩm có giá trị được tặng hoặc được tạo ra từ các nguồn tài chính của Hội và được quản lý, sử dụng theo chế độ, chính sách hiện hành.

Chương VI

KHEN THƯỞNG, KỶ LUẬT

          Điều 29. Khen thưởng

          Hàng năm trên cơ sở đề nghị khen thưởng của các đơn vị trong Hội, Ban Chấp hành Hội xét khen thưởng các tổ chức, cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác Hội.

          Điều 30. Kỷ luật

          Những tổ chức, cá nhân trong Hội vi phạm Điều lệ Hội hoặc làm ảnh hưởng tới uy tín Hội, Ban chấp hành Hội tiến hành xem xét mức độ vi phạm và đề ra hình thức kỷ luật tương xứng; nếu vi phạm nghiêm trọng, Ban chấp hành Hội đề nghị cơ quan bảo vệ pháp luật can thiệp.

          Uỷ viên Ban chấp hành, Uỷ viên Ban Thường vụ Hội vi phạm pháp luật và đạo đức nghề nghiệp từ cảnh cáo trở lên sẽ bị bãi miễn Ban chấp hành, Ban Thường vụ Hội.

          Việc thi hành kỷ luật hội viên ở mức khiển trách, cảnh cáo do Ban lãnh đạo Chi hội đề nghị, Ban Thường vụ xem xét, kết luận. Trường hợp bị khai trừ ra khỏi Hội do Ban chấp hành Hội quyết định.

Chương VII

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH VÀ HIỆU LỰC PHÁP LÝ

          Điều 31. Sửa đổi, bổ sung Điều lệ Hội

Chỉ có Đại hội Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh mới có quyền sửa đổi, bổ sung Điều lệ này. Việc sửa đổi, bổ sung Điều lệ Hội phải được trên 50% số đại biểu chính thức có mặt tại Đại hội tán thành.

Điều 32. Hiệu lực thi hành

1. Điều lệ Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh gồm 07 Chương, 32 Điều đã được Đại hội đại biểu khoá VII Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2013 và có hiệu lực thi hành theo Quyết định phê duyệt của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn.

2. Căn cứ quy định pháp luật về Hội và Điều lệ Hội, Ban Chấp hành Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh có trách nhiệm hướng dẫn và tổ chức thực hiện Điều lệ này./.

Read 4598 times Last modified on Thứ sáu, 15 Tháng 7 2016 09:02